Mo cau trong tâm thức người Việt

1.  Dấu ấn trong nghệ thuật, thơ ca, văn học dân gian

• Truyện Thằng Bờm có cái quạt mo

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười.

“Thằng Bờm có cái quạt mo” được xếp vào loại “những mâu thuẫn trong sinh hoạt giữa nông dân và địa chủ” trong “Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam” (Theo Vũ Ngọc Phan, nxb Chính trị xã hội Hà Nội, 1978)

Bờm là một nông dân nghèo phải đối đầu với một người giàu, một địa chủ. Không phải ngẫu nhiên mà phú ông đòi đổi cái quạt của Bờm bằng cả gia tài quý giá của mình. Đằng sau lời cám dỗ về cuộc mua bán có vẻ “hời” đó, chắc chắn là một cạm bẫy. Người nông dân hiểu “mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời trọc phú mà thương dân nghèo”. Bờm chất phác, thực thà nhưng cũng rất thực tế và hiểu biết. Không để người khác lừa mình và mình cũng không có ý lừa người khác. Mà làm sao lừa được phú ông!? Tốt nhất “thuận mua vừa bán”. Giá trị của quạt mo cũng chỉ xấp xỉ nắm xôi. Và anh nông dân nghèo chỉ cần no bụng. Thế là Bờm đồng ý trao đổi.

Câu chuyện dân gian mượn chiếc quạt mo để xây dựng nên tình huống cốt truyện. Thông qua đó, nó thể hiện mâu thuẫn trong cuộc sống  nông thôn Việt Nam ở xã hội phong kiến giữa địa chủ và nông dân.

• Hình ảnh mo cau trong thơ ca:

Nắng thu buồn nhuộm vàng ngõ trúc vắng
Từng nhịp võng đưa mẹ hát tiếng nghe buồn
Chừng lưng lửng cơm mẹ gói mo cau
Mẹ lên ruộng sâu gặt hái nuôi con.
(Bông bưởi hoa cau – Bắc Sơn)

Những câu thơ âm điệu thong thả, nhẹ nhàng giàu hình ảnh và gợi cả âm thanh, vẽ ra khung cảnh đượm tình. Từ con người đến sự vật đều dường như có hồn và đầy tâm trạng. Trong đó, hình ảnh mo cơm dung dị nhưng “gói” cả tấm lòng người mẹ dành trọn yêu thương và sự hy sinh cao cả cho con.

• Âm nhạc:

Nhắc đến mo cau, âm nhạc ta nhớ ngay đến bài hát tiêu biểu “Phu kéo mo cau” với những ca từ rất dễ thương. “Trò chơi thuở bé, anh hay kéo mo cau chở em quanh xóm nghèo… cô bé mĩ miều cười rung rung bờ vai tay ôm chắc vành mo. Chiếc tàu mo nhỏ bé anh giả làm phu xe, hỏi đi đâu bé à?…”

Hay nhạc sĩ Phạm Duy, cũng có bài hát rất hay, sử dụng hình ảnh mo cau mà mỗi độ rằm tháng Tám ta lại được nghe trẻ con hát rất nhiều: “Ông Trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo. Ông trăng xuống chơi học trò thì học trò cho bút. Ông trăng xuống chơi ông Bụt thì ông Bụt cho chùa (…) trả mo cây cau, trả bút học trò, trả chùa cho Bụt…”(ông Trăng xuống chơi)

Tại sao mời trăng xuống chơi mà cau không tặng gì lại chỉ cho mo? Trong logic bài hát, tác giả sử dụng nhiều sự vật, hiện tượng mà mỗi “vật cho” là đặc trưng của sự vật, hình tượng đó. Qua đó, chúng ta hiểu được mức độ điển hình cao và sự gắn bó thân thiết với cuộc sống con người – đặc biệt là lứa tuổi trẻ thơ của mo cau.

• Nghệ thuật:

Nghệ thuật làm mặt nạ bằng mo cau: 1972 đã có hẳn một cuộc triển lãm những chiếc mặt nạ mo cau. Và chính cuộc triển lãm này đã khơi nguồn cảm hứng, kích thích lòng đam mê sáng tác của ông Vũ Dân Tân – con trai duy nhất của nhà viết kịch Vũ Đình Long. Ông bắt đầu vẽ mặt nạ nhưng mo cau không dễ kiếm. Ông đành phải vẽ bằng những chất liệu khác và phát hiện ra mo tre, rổ, rá là sự lựa chọn lí tưởng.

Ông nói: “Mặt nạ là sự tưởng tượng vô bờ bến. Nó vừa thực vừa hư nên cho phép người ta tạo ra một cái gì đó không thực. Nó kết hợp cả hai yếu tố tâm linh (thuộc về tâm hồn) và tưởng tượng (nghệ thuật).”

Dùng mo cau làm chất liệu vẽ tranh: Họa sĩ Tạ Hải nổi tiếng với tranh lá. Khác với màu vẽ “ăn” vào giấy, những chiếc lá cánh hoa “nổi lên” trên và tạo nên những bức tranh có chiều sâu không gian. Bức tranh đầu tiên được làm từ lá vào năm 1965 đến nay vẫn còn.

Trong số tác phẩm của họa sĩ, có một bức tranh: một mảnh mo cau có những đường gân tự nhiên gợi cho ta liên tưởng đến một khoảng biển trời cuộn sóng, thêm nửa hình tròn cũng cắt bằng mo cau, vậy là có một bức “Hoàng hôn trên biển”.

2. Ý nghĩa biểu trưng:

Dẫu đã qua lâu rồi cái thời chưa điện khí hóa, khi mà hồi ức con người về sự mát mẻ thường là hồi ức quạt mo, những chiếc quạt mo trên đôi bàn tay chai sần của nông dân phe phẩy lúc nghỉ mệt trên đồng, những chiếc quạt mo trong tay đôi tình nhân bên nhau dưới gốc tre, bờ đê trưa hè nhẹ nhàng, tình tứ, những chiếc quạt mo trên đôi tay yêu thương của bà, của mẹ ru giấc cháu, con thơ…, tất cả vẫn còn ghi dấu ấn trong ta. Nó tạo nên bản sắc. Vâng, một nét văn hóa làm khu biệt ta và người khác, làm cho văn hóa Việt Nam khác Văn hóa ngoại quốc.

Mo cau, bầu nước (nước chứa trong quả bầu khoét ruột) hay ống nước (nước chứa ống tre khoét lỗ một đầu) đeo ngang vai hoặc gài ở thắt lưng, là những chi tiết quen thuộc khi người ta muốn vẽ nên hình ảnh mục đồng thôn quê Việt Nam, những sĩ tử trẩy kinh, hội thi và những khách bộ hành… Trong mo cơm ấy là bóng hình và tình yêu thương của các mẹ, các chị, các em gửi theo những người thân đi xa.

Tuy nhiên, không phải lúc nào mo cau cũng mang những ý nghĩa tốt đẹp. Ta thường nghe trong cuộc sống những từ ngữ đã trở nên cố định: thầy mo, mặt mo… Lúc này, mo cau trở về với thực tế chân xác, là một miếng mo khô, cứng, dày cộm, thô thiển.

Mặt mo: có ý chê bai người không biết xấu hổ. Những kẻ “lì” mặt, trơ trẽn. Nhà thơ Nguyễn Du có viết: “Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào”.

Thầy mo: là thầy cúng ở thượng du miền Bắc, đặc biệt trong một số dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam. Thầy trừ tà ma nhưng thường là “bịp”, bị mất lòng tin ở mọi người. Dân gian ta truyền nhau: ốm đau thì phải mời thầy thuốc chứ không nên tin thầy mo.

Cuối cùng, chúng tôi muốn bàn thêm về mo cau qua lăng kính tôn giáo.

Với giáo lý vô thường, đạo Phật chỉ dạy cho con người thấy rõ sự vận hành của muôn vật trong vũ trụ luôn luôn thay đổi, không trường tồn. Từ cỏ cây sự vật cho đến con người và cả vũ trụ bao la đều tuân theo quy luật sinh – trụ – dị –diệt. Nhưng đạo Phật không dừng nơi đạo lý vô thường mà triển khai rộng hơn, sâu hơn cho mọi người thấy thực tại tính của sự vật, thấy cái chân thường trong cái vô thường.

Cây cau cũng vậy và tàu cau là sự minh họa rõ ràng nhất cho quá trình này.

Lá cau từ lúc mới nhú lên non tơ đến lúc xanh mướt rồi héo khô và rụng xuống thành tàu cau, nếu biết trước mình sẽ khô và chết, cau sẽ chẳng buồn ra lá, cũng chẳng muốn xanh tươi. Như thế thì sự sống sẽ bị triệt tiêu. Thế nhưng, cau vẫn đem hết sức mình để cống hiến cho đời phần tinh túy, đẹp nhất của mình. Rồi đến khi già nua, tàu cau biết mình cần rời khỏi thân cây để nhường lại cho các chồi cau khác sinh trưởng. Nó nhẹ nhàng rụng xuống, không níu kéo một cách kém thông minh và nô lệ như những cánh hồng cứ bám mãi trên đài. Bởi tàu cau rụng cho buồng cau lớn lên mà bấy lâu nay tàu cau che chở ấp ủ cho bao mầm xanh tràn nhựa sống ra đời. Và bởi cau biết cái chết là bắt đầu của sự sống, đêm tàn là khởi đầu của bình minh, mùa đông lạnh giá là cội nguồn của xuân tươi mới.

Tàu cau tuy không còn xanh nhưng không phải là chết. “Kiếp sau” của tàu cau hay mo cau là quạt mo, mo cơm. Mo cau thường dùng để đựng cơm và vì thế mo cơm được xem là “kiếp sau no đủ” của tàu cau. Có thể nói, ở đây còn chứa cả triết lí nhân – quả “gieo gì gặt nấy”, mang đậm tính phương Đông: cả đời tàu cau dâng cho cuộc sống cái đẹp, cái thanh khiết nên mo cau được hưởng kiếp sung túc về sau.

Tóm lại, hình ảnh chiếc mo cau gửi đến ta thông điệp, hãy sống hết mình và thật sự hữu dụng trong cuộc đời.

“Nếu là con chim, chiếc lá
Thì chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Sống trên đời người cũng vậy
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”.

Mo cau thể hiện đức hy sinh và lối sống đẹp trong đời. Ở đây, tôi muốn nói thêm về cây cau. Thân cau mọc thẳng, lúc đổ xuống cũng đổ thẳng về một phía; tượng trưng cho tính thẳng thắn, cương trực của người quân tử. Hoa cau có hương thơm ngát, dịu ngọt, đằm thắm làm ta dễ chịu, ngất ngây… như những thôn nữ hiền ngoan, mộc mạc mà dễ thương, dễ nhớ – cái mà người ta vẫn thường gọi là “duyên ngầm”…

Chút ngẫu hứng mo cau đưa ta về những hồi ức duyên dáng, phả chút buồn dịu nhẹ. Thời đại quạt mo đã xa rồi trong quá khứ để thay bằng thời đại máy lạnh ngày nay. Ta không mong trở về quá khứ ấy, bởi cuộc sống phải ngày càng văn minh. Thế nhưng hãy giữ trong lòng ta nếp sống, tình yêu quê, sự cần cù của người Việt Nam thuần túy, yêu thiên nhiên. Hãy để tâm hồn nhẹ nhàng, rộng mở, trở về với tự nhiên khi thưởng thức món cơm nắm trong nhà hàng, hay chiêm ngưỡng những bức tranh làm bằng mo cau-tác phẩm nghệ thuật có hình ảnh làng quê Việt Nam thân thuộc.

One thought on “Mo cau trong tâm thức người Việt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *